🏢 Doanh Nghiệp

Thêm dư địa cho vay dài hạn, hiệu quả vẫn phụ thuộc thanh khoản

27-06-2026 14:22
1 lượt xem
Đã public
Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng tạo thêm không gian cho hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng, nhưng hiệu quả của chính sách sẽ còn phụ thuộc vào khả năng huy động vốn, thanh khoản và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng tạo thêm không gian cho hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng, nhưng hiệu quả của chính sách sẽ còn phụ thuộc vào khả năng huy động vốn, thanh khoản và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SMLR) ở một số ngân hàng quy mô lớn và trung bình tới cuối quý I/2026.

Mở rộng dư địa cho vay dài hạn nhưng chưa tạo thêm nguồn vốn

Thông tư số 25/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 được đánh giá là một trong những thay đổi đáng chú ý nhất trong điều hành an toàn hoạt động ngân hàng thời gian gần đây. Không chỉ nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%, thông tư còn điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), qua đó tạo thêm không gian để các tổ chức tín dụng mở rộng hoạt động cấp vốn.

Tuy nhiên, theo nhiều tổ chức phân tích, việc nới các giới hạn an toàn chủ yếu tháo gỡ những ràng buộc kỹ thuật về cơ cấu nguồn vốn, thay vì giải quyết tận gốc bài toán thanh khoản và huy động vốn của hệ thống ngân hàng.

Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), Thông tư số 25/2026/TT-NHNN có 3 điểm đáng chú ý gồm: nâng trần tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40%; bổ sung trường hợp đặc biệt cho phép tăng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào công thức LDR cao hơn mức 20% theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; đồng thời phản ánh sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Theo VDSC, trong khi chính sách tài khóa tạo nhu cầu vốn thông qua đầu tư công và các dự án trọng điểm thì chính sách tiền tệ điều chỉnh các ràng buộc về kỳ hạn nguồn vốn nhằm tăng khả năng hấp thụ vốn của hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, VDSC nhấn mạnh, việc nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% chỉ mở rộng khả năng sử dụng nguồn vốn hiện có giữa các kỳ hạn khác nhau, không trực tiếp tạo thêm nguồn vốn huy động. Vì vậy, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào khả năng cải thiện huy động vốn, trạng thái LDR của từng ngân hàng và mức độ ổn định thanh khoản toàn hệ thống.

Theo nhóm phân tích, chính sách tạo thêm dư địa cho vay trung và dài hạn nhưng mới chỉ giải quyết một phần ràng buộc về cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn. Nút thắt lớn hơn hiện nay vẫn là chênh lệch giữa huy động và tín dụng cùng việc nhiều ngân hàng duy trì tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi ở mức cao.

Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) ở một số ngân hàng quy mô lớn và trung bình tới cuối quý I/2026.

VDSC cho rằng, việc nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% sẽ giúp các ngân hàng giảm áp lực huy động tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên - nhóm nguồn vốn có chi phí cao - trong khi vẫn có thể duy trì hoặc mở rộng cho vay trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần như MB, Techcombank, VPBank và Sacombank được đánh giá có thể hưởng lợi rõ hơn do thời gian qua phải chịu áp lực huy động vốn trung và dài hạn với chi phí cao. Tuy nhiên, VDSC lưu ý dư địa cải thiện NIM trong trung hạn sẽ không lớn bởi áp lực huy động vốn vẫn còn khi ràng buộc về tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi chưa thay đổi đáng kể.

Theo VDSC, việc nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cũng không đồng nghĩa các ngân hàng sẽ ngay lập tức mở rộng mạnh cho vay trung và dài hạn. Đến cuối quý I/2026, phần lớn ngân hàng quy mô lớn và trung bình đều có tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi tiệm cận mức trần 85%. Trong khi đó, việc bổ sung trở lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức tính LDR chỉ giúp tỷ lệ này của nhóm ngân hàng quốc doanh giảm khoảng 100-150 điểm cơ bản.

Hiệu quả chính sách phụ thuộc vào thanh khoản hệ thống

Từ những đánh giá trên, VDSC cho rằng việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn trong phạm vi nguồn vốn ngắn hạn hiện có nhưng không tạo thêm nguồn vốn huy động mới có thể khiến áp lực thanh khoản kéo dài hơn. Nếu tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt huy động, cạnh tranh tiền gửi và mặt bằng lãi suất huy động có thể duy trì ở mức cao, làm giảm hiệu quả hỗ trợ tăng trưởng của chính sách.

Thực tế, bối cảnh thanh khoản hiện nay cũng cho thấy dư địa điều hành không còn quá dồi dào. Theo Bản tin Kinh tế - Tài chính - Tiền tệ tuần 3 tháng 6/2026 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng tăng ở hầu hết các kỳ hạn từ một tháng trở xuống; Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng thanh khoản tuần thứ ba liên tiếp và tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng.

Cùng với đó, huy động vốn có sự phân hóa khi tiền gửi dân cư tiếp tục tăng nhưng tiền gửi của tổ chức kinh tế giảm so với cuối năm 2025; nhiều ngân hàng vẫn duy trì lãi suất huy động ở mức cao để cạnh tranh nguồn vốn trung và dài hạn. Điều này cho thấy áp lực huy động vốn vẫn hiện hữu, nhất là tại nhóm ngân hàng có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn lớn.

Lịch sử trần tỷ lệ SMLR (trục trái) và tỷ lệ LDR thị trường 1 (trục phải) của toàn hệ thống.

Cùng quan điểm, báo cáo của Công ty Chứng khoán ACBS cho rằng, việc nới các quy định về thanh khoản chủ yếu giúp giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài và chi phí mở rộng bảng cân đối kế toán, qua đó tạo điều kiện để các ngân hàng giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn, thanh khoản của hệ thống vẫn phụ thuộc vào khả năng cải thiện nguồn vốn của nền kinh tế thông qua nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu và đẩy nhanh giải ngân đầu tư công.

Báo cáo tại buổi làm việc với Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, bà Nguyễn Thị Xuân, Trưởng Ban Pháp luật và Nghiệp vụ của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, trong 5 tháng đầu năm 2026, dù các ngân hàng đã triển khai chính sách lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, toàn hệ thống vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như NIM thu hẹp, rủi ro nợ xấu gia tăng và những vướng mắc pháp lý trong xử lý tài sản bảo đảm.

Theo đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, để ổn định mặt bằng lãi suất và mở rộng tín dụng bền vững cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa. Trong đó, việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công sẽ giúp dòng tiền quay trở lại hệ thống ngân hàng, bổ sung nguồn tiền gửi thanh toán, qua đó giảm áp lực thanh khoản; đồng thời cần tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc trong xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm, nhất là đối với bất động sản và đất đai.

Có thể thấy, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN tạo thêm dư địa để hệ thống ngân hàng sử dụng linh hoạt hơn nguồn lực hiện có, nhưng chưa phải là lời giải cuối cho bài toán nguồn vốn. Để chính sách phát huy hiệu quả như kỳ vọng, bên cạnh việc nới các ràng buộc kỹ thuật, khả năng cải thiện huy động vốn, ổn định thanh khoản và nâng cao sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn sẽ là những yếu tố quyết định.

Link gốc

Nguồn bài viết: https://fireant.vn/

Chia sẻ bài viết
Facebook Twitter